Dạy học chủ đề

 CHUYÊN ĐỀ:             DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ

  1. Đặt vấn đề:

Bộ GD & ĐT đang thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước thành những con người chủ động, tích cực, sáng tạo. Có như vậy mới có được những thế hệ đủ sức đảm đương gánh vác những trọng trách của đất nước trong thời kì mới, thời kì hội nhập, thời kì mà nền kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo.

Những người trực tiếp đứng lớp làm nhiệm vụ giảng dạy trong thời gian gần đây được ngành GD quan tâm, tạo điều kiện học hỏi, nắm bắt nhiều phương pháp giảng dạy mới để thực hiện mục tiêu nêu trên. Thế nhưng không phải một sớm một chiều đội ngũ chúng ta dễ dàng vận dụng hiệu quả. Hơn nữa, ngày càng nhiều phương pháp tổ chức dạy học được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới cũng như trong nước nên việc tìm hiểu, học hỏi để vận dụng là thường xuyên. Đó là mục đích hôm nay chúng ta cùng ngồi đây.

Trong nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học theo yêu cầu đổi mới mà chúng ta đang tập tành thử nghiệm, vận dụng thì Dạy học theo chủ đề là một trong những yêu cầu được  thực hiện từ năm học 2014-2015 đến nay. Và đây cũng là chuyên đề mà PGD Đại Lộc giao cho tổ Ngữ văn Phù Đổng thực hiện trong năm học này.

Vì đang ở bước mày mò thử nghiệm, rồi cùng đưa ra trao đổi với tổ chuyên môn của huyện là để cùng tìm cách đi hiệu quả nhất nên chắc chắn nội dung đưa ra có rất nhiều điều để bàn. Vì thế, sự thẳng thắn, nhiệt tình là vô cùng cần thiết trong nội dung thảo luận. Rất mong buổi sinh hoạt đạt được một kết quả như mong muốn.

  1. Giải quyết vấn đề:
  2. Thực trạng:

Trước đây, dù chương trình được cấu trúc theo hướng đồng tâm, nhiều bài, dạng bài được dạy lặp lại ở các khối lớp theo hướng nâng cao nhưng đôi lúc chúng ta chưa chú trọng tạo cho hs cái nhìn tổng quát, chưa giúp các em có phương pháp vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề nảy sinh có liên quan ở bài mới. Hơn nữa, thời gian cho mỗi bài dạy cũng là một khó khăn cho GV. Bởi dạy theo từng bài trong khoảng thời gian qui định đôi lúc không đủ tổ chức cho HS nắm bắt những điều cơ bản trong tiết học đó nên khó cho HS cơ hội hệ thống kiến thức.

Vì thế, việc liên hệ, xâu chuỗi kiến thức giữa những bài cùng chủ đề có được thực hiện có thể chỉ mang tính tự phát, thiếu đồng bộ, chưa thường xuyên. Và nếu thời gian không đủ cho tiết dạy thì việc ấy có thể bỏ qua.

Thái độ học tập của HS cũng là một yếu tố quan trọng để GV có thể tổ chức tiết dạy hiệu quả. Khi các em chưa tích cực, chưa nắm được kiến thức tiết trước, chưa chuẩn bị bài chu đáo ở nhà thì GV khó tổ chức cho các em vận dụng kiến thức đã học để nắm bắt kiến thức mới.

  1. Giải pháp:

2.1/Hiểu thế nào là dạy học theo chủ đề?

Dạy học theo chủ đề là phương pháp tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần  của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong  một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn.

2.2/ Tại sao thực hiện yêu cầu dạy học theo chủ đề?

Mỗi PP, cách thức tổ chức dạy học đều có những ưu thế và hạn chế riêng. Nhưng xét theo yêu cầu hiện nay của GD là làm thế nào để nội dung kiến thức trở nên hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống? Làm thế nào để việc học tập phải nhắm đến mục đích là rèn các kĩ năng sống, nhất là kĩ năng giải quyết vấn đề – những vấn đề đa dạng của thực tiễn? Làm thế nào để nội dung chương trình dạy luôn được cập nhật trước sự bùng nổ vũ bão của thông tin để các kiến thức được học thực sự là thế giới mới cho người học?

Và trả lời được các câu hỏi trên đồng nghĩa với việc xác định mục tiêu GD, mô hình dạy học trong thời đại mới.

Dạy học theo chủ đề, theo hiểu biết qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy có những lợi thế hơn so với cách dạy truyền thống ở những điểm sau: Các nhiệm vụ học tập được giao cho HS, các em chủ động tìm hướng giải quyết vấn đề. Kiến thức không bị dạy riêng lẻ mà được tổ chức lại theo một hệ thống nên kiến thức các em tiếp thu được là những khái niệm trong một mạng lưới quan hệ chặt chẽ. Mức độ hiểu biết của các em sau phần học không chỉ là Hiểu, Biết, Vận dụng mà còn biết Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá. Kiến thức cũng không chỉ là kiến thức mà những kiến thức đó liên quan đến những lĩnh vực nào trong cuộc sống, vận dụng nó như thế nào.

2.3/ Những thuận lợi, khó khăn trong việc dạy học theo chủ đề

– Thuận lợi:  + Giữa các bài học trong chương trình (cùng một khối lớp hoặc trong những khối lớp của bậc THCS) có nhiều bài có mối quan hệ chặt chẽ, GV dễ dàng trong việc chọn chủ đề để xây dựng chủ đề dạy học.

+ Bộ môn có nội dung phong phú, nguồn tài liệu dồi dào để HS tìm hiểu, GV tham khảo trong việc tổ chức HS học tập.

+ Là một môn xã hội, lại là môn công cụ nên liên hệ thực tiễn đời sống khá dễ dàng. Đó là những định hướng để ta có những yêu  cầu HS ứng dụng vào thực tế.

– Khó khăn:

+ Trước hết là nhận thức, là ý thức. Đổi mới bao giờ cũng gây khó khăn cho GV vì thay đổi một thói quen thực hiện bao đời là điều không dễ.

+ Không có sẵn chương trình từ SGK, SGV mà GV tự biên soạn, cấu trúc lại chương trình. Những gì cần lược bỏ, những gì cần tích hợp vào,… tự GV quyết định.

+ Mỗi chủ đề thường được thực hiện trong nhiều tiết. Thế nhưng khoảng cách thời gian giữa các tiết không gần nhau, tạo tâm thế cho mỗi tiết học trong cách dạy có sự xâu chuỗi kiến thức giữa các tiết mất nhiều thời gian.

+ Tỉ lệ HS tích cực, chủ động trong học tập còn quá ít. Khả năng tự học hạn chế đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng tiết học.

2.4/ Các bước để thực hiện một chủ đề trong dạy học theo chủ đề:

Bước 1: Xác định chủ đề:

Trong chương trình Ngữ văn của từng khối lớp hoặc của nhiều khối lớp, chúng ta chọn những bài học nào hoặc phân môn nào có mối liên quan chặt chẽ nhau. Từ những nội dung liên quan đó, GV định hình chủ đề sẽ dạy và soạn thành một giáo án Dạy học theo chủ đề. Như vậy một chủ đề có thể ít hoặc nhiều tiết; có thể ở một khối lớp hoặc ở nhiều khối lớp. (Ít nhất là 2 đơn vị kiến thức hoặc hai phân môn trở lên trong một chủ đề).

Ví dụ 1: Xét về nội dung, về hoàn cảnh sáng tác, về tác giả (trong phần văn bản) ta có thể có chủ đề: Thơ Hồ Chí Minh; Thơ Mới; Thơ Cách mạng những năm 1930-1945; Truyện Kiều với những đoạn trích; …

Ví dụ 2: Xét về thể loại (trong tập làm văn), chúng ta có thể xây dựng chủ đề: Văn tự sự  hoặc Những yếu tố kết hợp trong văn tự sự (Lớp 6, 8, 9); Văn Nghị luận (Lớp 7, 8, 9)

Ví dụ 3: Xét về từ loại (trong tiếng Việt) ta có chủ đề Từ loại tiếng Việt,…

Bước 2: Xác định những nội dung liên quan giữa các đơn vị bài học, cấu trúc lại chương trình

Ở những bài học cùng chủ đề, từ yêu cầu kiến thức (theo chuẩn), GV cần xác định giữa các tiết đó liên quan ở những nội dung cụ thể nào. Khi dạy ở tiết trước, GV định hình những nội dung nào để HS chuẩn bị cho những tiết sau. Khi thực hiện dạy những tiết sau, GV cho HS vận dụng những gì từ tiết trước để HS tìm hiểu cho bài mới. Và từ bài dạy tiết sau, các em sẽ hệ thống, củng cố lại được kiến thức nào đã được nắm bắt từ những tiết trước. Tất cả những nội dung này được thể hiện cụ thể ở hệ thống câu hỏi, những vấn đề đặt ra cho HS thực hiện  trong nội dung chuẩn bị ở nhà, trong tiết học.

Ví dụ: Chủ đề Thơ Hồ Chí Minh (trong chương trình Ngữ văn lớp 7 và lớp 8).

– Ở lớp 7, khi dạy hai bài thơ “Rằm tháng giêng” và Cảnh khuya”, GV hướng dẫn các em chuẩn bị tìm hiểu về thể thơ tứ tuyệt, đề tài về trăng trong thơ Bác (trong cả thơ xưa, nếu những em có khả năng và điều kiện), và tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan của Bác. Sau khi đã tìm hiểu bài thơ,  GV có thể giúp các em chốt lại kiến thức đó và giới thiệu cho những tiết tiếp trong cùng chủ đề, có thể là tiết học ở năm sau của các em: Tình yêu thiên nhiên, phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của Bác chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn qua nhiều bài thơ khác của Bác, đặc biệt là những bài thơ từ tập “Nhật kí trong tù”. Các em có thể tìm hiểu trước (Hoặc: các em sẽ được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn lớp 8).

– Khi học chương trình Ngữ văn 8, GV giúp HS ôn kiến thức về thể thơ tứ tuyệt qua những bài thơ của Bác được học từ lớp 7, biết tổ chức định hướng cho các em dùng những hiểu biết về nội dung những bài đã học để tìm hiểu những bài thơ của Bác trong chương trình lớp 8.

Ví dụ: + Dùng để giới thiệu bài mới: Chúng ta đã tìm hiểu những bài thơ nào của Bác Hồ trong chương trình Ngữ văn 7? Những  bài thơ ấy có nội dung gì? Chúng ta sẽ cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp của phong cách Bác trong bài thơ mà hôm nay chúng ta sẽ được học. Đó là bài “Tức cảnh Pác Bó” (Phần đặt vấn đề để giới thiệu bài đã định hướng được nội dung cần tìm hiểu trong bài mới và cũng đã ôn lại kiến thức đã học trong thơ Bác ở lớp 7).

+ Dùng để hệ thống kiến thức sau khi học xong những bài thơ của Bác trong chương trình THCS (Sau hai bài thơ: Ngắm trăng, Đi đường): Cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên, phong thái ung dung, tinh thần lạc quan nhưng có gì khác trong hoàn cảnh thể hiện vẻ đẹp tâm hồn ấy qua những bài thơ em đã được học từ lớp 7 và những bài trong chương trình lớp 8? Từ đó em có thể khái quát những điều em cảm nhận về Bác Hồ qua những bài thơ của Bác. Qua đó em rút ra được bài học gì cho bản thân?(Cho dù Bác sống trong những hoàn cảnh khác nhau, dù là lúc Bác gánh trọng trách nặng nề nhất, trong thời kì gian khổ những năm hoạt động bí mật ở Cốc Pó, ở núi rừng Việt Bắc hay cả những năm tháng bị đày đọa trong nhà lao Tưởng Giới Thạch  nhưng lúc nào ta vẫn thấy ở Bác tình yêu thiên nhiên mãnh liệt; ở Bác luôn toát lên một phong thái ung dung, tinh thần lạc quan. Đó chính là bản lĩnh, là nghị lực phi  thường của người chiến sĩ cộng sản, một người luôn làm chủ hoàn cảnh, chiến thắng hoàn cảnh. Tinh thần lạc quan, tình yêu thiên nhiên, nghị lực vượt lên hoàn cảnh sẽ là bài học cho mỗi chúng ta…  (Câu hỏi này nêu ra đối sánh sau khi tìm hiểu những bài thơ của Bác giúp HS có cái nhìn khái quát, biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống) .

Dạy học theo chủ đề cũng là cách chúng ta thực hiện tốt chủ trương tinh giản kiến thức. Vì chương trình được cấu trúc theo hướng đồng tâm nên đôi khi ta dạy bị lặp ở một số kiến thức nào đó. Soạn chung trong một chủ để, GV thấy rõ hơn điều này nên có thể lược bỏ, tránh sự nhàm chán cho người học, giảm bớt thời gian vốn bị thiếu khi ta thực hiện mỗi tiết học.

Cách dạy học theo hướng này, GV có thể, tùy bài, cấu trúc lại chương trình, sắp xếp lại các đơn vị kiến thức theo hướng phù hợp hơn với điều kiện giảng dạy, giúp học sinh dễ nắm bắt kiến thức hơn.

Ví dụ1: Nhóm bài Cụm từ ở lớp 6 gồm 2,5 tiết (Tiết 63 có học từ loại: Tính từ): Tiết 44-Cụm danh từ, tiết 61-Cụm động từ, tiết 63-Tính từ và cụm tính từ. Chúng ta có thể cấu trúc lại chương trình từ những tiết này vì dạy học sinh nắm được cấu tạo cụm từ, cả ba kiến thức lặp lại điều này.  Nếu ta tổ chức HS nắm  lí thuyết cả ba cụm từ rồi chuyển sang các dạng bài tập của những bài học có thể giúp HS có cái nhìn hệ thống hơn, nắm bắt kiến thức dễ hơn.

Ví dụ 2: Phần tập làm văn: Văn tự sự lớp 9, GV có thể cấu trúc lại chương trình. Từ lớp 8, tiết 24, các em được học bài Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự. Lớp 9, các em lại có tiết 32: Miêu tả trong văn bản tự sự. Chính sự trùng lặp này cho phép GV giảm bớt thời lượng tiết học này, tập trung hơn cho những tiết khác, hoặc tăng thời lượng thực hành. Vì HS cần có cái nhìn tổng quát các yếu tố kết hợp trong văn tự sự nên chúng ta có thể cho các em luyện tập chung trong một đoạn văn, một văn bản. Trong thực tế, HS chưa được dành nhiều thời gian luyện tập xây dựng dàn ý cho một bài văn. Và qua dàn bài các em xây dựng từ một đề bài, các em luyện tập dựng đoạn văn cho một ý nào đó mà các em định hướng sẽ có yếu tố: miêu tả, hoặc biểu cảm, hoặc miêu tả nội tâm, hoặc nghị luận. Cách tổ chức này giúp HS có cái nhìn hệ thống hơn cho một dạng bài. Chắc chắn đi theo hướng này, khi làm bài viết các em sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng các yếu tố kết hợp trong văn tự sự. Cụ thể, GV có thể cấu trúc lại chương trình từ những tiết trên:

 

Chương trình hiện hành Cấu trúc lại chương trình
Tiết 32: Miêu tả trong văn bản tự sự Tiết 32 – Miêu tả và miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự
T.40: Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự; Tiết 40 – Nghị luận trong văn bản tự sự.
T.41: Luyện tập Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự;  Tiết 41 – Luyện tập lập dàn ý cho bài văn tự sự .
T.50: Nghị luận trong văn bản tự sự; Tiết 50 – Luyện tập lập dàn ý và dựng đoạn cho bài văn tự sự  (có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm, và miêu tả nội tâm ).
T.60: Luyện tập viết đoạn văn tự sự có yếu tổ nghị luận Tiết 60 – Luyện tập lập dàn ý và dựng đoạn cho bài văn tự sự  (có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm, miêu tả nội tâm và nghị luận).

(Tổ Văn PĐ chưa thực hiện chuyên đề này. Đây chỉ là một nội dung có thể xây dựng thành chuyên đề, theo góc nhìn chủ quan)

Bước 3: Định hướng thời lượng cho kiến thức sẽ thực hiện.

Nếu chỉ dừng lại ở nội dung (mối liên quan giữa những bài học mà ta soạn theo chủ đề) thì chưa đủ. Bởi nếu ta không dạy theo hướng này thì bản thân những bài ấy đã có mối liên quan vì chương trình đang dạy học hiện nay được cấu trúc theo hướng đồng tâm-một số bài, thể loại,… được lặp lại, nâng cao. Dù  ít hay nhiều thầy cô đều thực hiện tích hợp kiến thức giữa các bài có cùng chủ đề đó (Nhưng đôi lúc chúng ta thực hiện thiếu chủ động, mang tính tự phát).

Nay Bộ GD đã cho phép chúng ta có quyền co giãn thời gian cho các bài học. Cụ thể: khi ta thực hiện dạy học theo chủ đề, ta có thể định lượng thời gian phù hợp với lượng kiến thức ta tổ chức cho HS nắm. Chính điều này giúp GV chủ động hơn trong tổ chức dạy học. Nhưng nếu tăng thời lượng cho bài học này, chúng ta cũng tìm những bài học có thể giảm lượng thời gian tương ứng.

Ví dụ: Trong chủ đề Thơ Hồ Chí Minh, chúng tôi  tăng lượng thời gian cho tiết 85 (hai bài thơ Ngắm trăng và Đi đường) lên 15 phút. Giảm tương ứng thời gian ấy từ bài tiếng Việt –(tiết 86: Câu cảm thán)

Không chỉ tăng hay giảm thời gian cho mỗi chủ đề dạy học mà việc cấu trúc lại chương trình cũng buộc GV phải định lượng thời gian cho mỗi hoạt động, mỗi đơn vị kiến thức trong chủ đề.

Ví dụ: Chủ đề Cụm từ ở lớp 6. Với 2,5 tiết học, thời gian để HS nắm lí thuyết là 60 phút, luyện tập là 45 phút.

Bước 4: Soạn giáo án, chuẩn bị ĐDDH, phương tiện dạy học.

* Hình thức:

  1. Tên chủ đề.

Ví dụ: Chủ đề: – Thơ Hồ Chí  Minh

– Cụm từ

– Văn tự sự.

(Tên chủ đề phải khái quát được tất cả những đơn vị kiến thức trong của chủ đề)

  1. Cấu trúc chương trình (Thời gian, đơn vị kiến thức theo chương trình hiện hành à cấu trúc lại chương trình thực hiện chủ đề)

Ví dụ: Chủ đề Cụm từ (lớp 6) – Chương trình hiện hành:

+ Tiết 44 – Cụm danh từ (Sau bài Danh từ – tiết 32, 41)

+ Tiết 61 – Cụm động từ ( Sau bài Động từ – tiết 60)

+ Tiết 63-Tính từ và cụm tính từ.

– Cấu trúc lại chương trình:

Dạy chủ đề Cụm từ  sau khi đã học xong những bài từ loại: Danh từ, Động từ, Tính từ.

Dạy cấu tạo chung của cụm từ  (60ph) xong mới qua luyện tập (45ph).

  1. Các mục của một giáo án: ( Như một giáo án bình thường hiện nay nhưng cho cả chủ đề)

3.1/ Mục tiêu cần đạt. (Cho cả chủ đề)

3.2/ Chuẩn bị. ( GV hướng dẫn HS chuẩn bị những gì cho một chủ đề, GV soạn giáo án, những phương tiện để tổ chức cho một chủ đề, HS chuẩn bị cụ thể những gì từ định hướng của GV)

3.3/ Phương pháp tổ chức.

3.4/ Tiến trình tổ chức.

Ở phần này, chúng ta chia tiết/nội dung hoạt động. Cụ thể sẽ được trình bày trong giáo án ở phần sau chuyên đề này.

3.5/ Dặn dò.

 

Bước 5:  Tổ chức kiểm tra đánh giá (Theo tài liệu, tổ chưa thực hiện hoạt động này. Mong nhận được ý kiến góp ý của các trường, ý kiến chỉ đạo của tổ nghiệp vụ)

 

KẾT LUẬN:

Theo hiểu biết, dạy học chủ đề là mô hình dạy học có nhiều ưu điểm, vừa góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục – đào tạo những con người tích cực, năng động, vừa thực hiện được chủ trương giảm tải, tránh được sự trùng lặp gây nhàm chán cho người học, giúp HS có khả năng tổng hợp lượng kiến thức đã học, đảm bảo được thời gian tổ chức dạy học của GV,…

Nhưng mới ở bước tiếp cận nên việc xây dựng chủ đề, tổ chức dạy học còn nhiều khúc mắc, chưa rõ hiệu quả. Tổ văn PĐ cũng không có tham vọng tổ chức thường xuyên theo mô hình này vì nghĩ rằng cách thức, phương pháp nào cũng sẽ có thế mạnh, có điểm yếu. Chỉ cố gắng áp dụng một vài chủ đề cho mỗi khối lớp, cố gắng dần hoàn thiện nó. Đây là cách để góp phần rèn cho HS khả năng tự học, có được những năng lực khái quát kiến thức. Và đây cũng là cách để GV rèn thói quen học tiếp cận những phương pháp, những mô hình dạy học mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện trong dạy học, chuẩn bị cho đợt thay sách vào năm 2018-2019 sắp đến.

Chắc chắn chuyên đề còn rất nhiều thiếu sót, vấn đề đặt ra cũng có rất  nhiều điều cần bàn. Mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của đồng nghiệp. Xin chân thành cám ơn!